Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả kiến thức, thực hành hồi sinh tim phổi của điều dưỡng đang công tác tại Bệnh viện đa khoa Hùng Vương, Phú Thọ năm 2025.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 224 điều dưỡng đang công tác tại Bệnh viện đa khoa Hùng Vương, Phú Thọ, từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2025. Thông tin về kiến thức hồi sinh tim phổi của đối tượng được thu thập qua bộ câu hỏi tự điền, được xây dựng dựa trên hướng dẫn hồi sinh tim phổi của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) và được đánh giá tính giá trị nội dung (Content validity) với 24 chuyên gia trong lĩnh vực hồi sức (có kinh nghiệm trên 5 năm trong lĩnh vực). Thực hành hồi sinh tim phổi được đánh giá thông qua quan sát đối tượng thực hiện trên hệ thống Kiosk-HSTP đã được cấp bằng sáng chế, với điểm số và các chỉ số kỹ thuật được hệ thống tự động ghi nhận sau 30 giây thực hành. Số liệu được nhập và làm sạch bằng phần mềm EpiData 3.1, phân tích bằng phần mềm STATA 16.0, được mô tả bằng giá trị trung bình, tần số và tỷ lệ.
Kết quả: Phần lớn đối tượng nghiên cứu có kiến thức về hồi sinh tim phổi ở mức trung bình trở lên (58,9%). Mức độ kiến thức hồi sinh tim phổi có sự khác biệt giữa các khoa công tác, với tỷ lệ kiến thức tốt cao nhất ghi nhận tại Khoa Gây mê hồi sức cấp cứu (39,7%) và thấp nhất tại Khoa Phụ sản (1,4%). Tuy nhiên, tỷ lệ đối tượng có thực hành hồi sinh tim phổi đạt yêu cầu còn rất thấp (16,1%) và cũng có sự khác biệt giữa các khoa; Khoa Gây mê hồi sức cấp cứu đạt tỷ lệ cao nhất (33,3%), trong khi Khoa Nội tổng hợp ghi nhận tỷ lệ thấp nhất (2,8%).
Kết luận: Tỷ lệ đối tượng có kiến thức hồi sinh tim phổi ở mức trung bình trở lên chiếm ưu thế, tuy nhiên tỷ lệ thực hành đạt yêu cầu vẫn còn thấp, cho thấy khoảng cách đáng kể giữa kiến thức và khả năng áp dụng vào thực hành. Do đó, bệnh viện cần tăng cường đào tạo thực hành hồi sinh tim phổi định kỳ dựa trên mô phỏng, tổ chức diễn tập tình huống tại đơn vị lâm sàng và chuẩn hóa quy trình theo các khuyến cáo cập nhật. Đồng thời, thiết lập cơ chế đánh giá năng lực thường xuyên và cải tiến chất lượng liên tục nhằm thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành, nâng cao hiệu quả xử trí ngừng tuần hoàn.